Thành phần
| Thành phần | Hàm lượng |
|---|---|
| Esomeprazol | 40mg |
Công dụng
Chỉ định
Thuốc Nexium 40mg được chỉ định trong các trường hợp sau:
Điều trị kháng tiết dịch vị khi không thể dùng thuốc đường uống, ví dụ:
- Bệnh trào ngược dạ dày – thực quản (GERD) ở bệnh nhân viêm thực quản hoặc có triệu chứng trào ngược nặng.
- Điều trị loét dạ dày gây ra bởi thuốc NSAID. Dự phòng loét dạ dày và tá tràng ở bệnh nhân có nguy cơ do sử dụng thuốc kháng viêm không steroid (NSAID).
- Phòng ngừa tái xuất huyết sau khi điều trị nội soi xuất huyết cấp tính từ loét dạ dày hoặc loét tá tràng.
Trẻ em và trẻ vị thành niên từ 1 – 18 tuổi:
Điều trị kháng tiết dịch vị khi không thể dùng thuốc đường uống, ví dụ:
- Bệnh trào ngược dạ dày – thực quản (GERD).
- Bệnh nhân bị viêm xước thực quản do trào ngược hoặc các triệu chứng trào ngược nghiêm trọng.
Dược lực học
Esomeprazole là đồng phân S của omeprazole có tác dụng làm giảm bài tiết axit dạ dày thông qua cơ chế tác động đặc hiệu tại tế bào đích. Thuốc là chất ức chế chuyên biệt bơm axit ở tế bào thành. Cả hai dạng đồng phân R và S của omeprazole đều mang tác động dược lực học tương tự.
Vị trí và cơ chế tác động
Esomeprazole là một base yếu, được tích lũy và chuyển đổi thành dạng hoạt động trong môi trường axit cao của ống tiểu quản chế tiết của tế bào thành. Tại đây, thuốc ức chế enzyme H+K+-ATPase (bơm axit) và ức chế sự tiết dịch cả cơ bản và do kích thích.
Tác động lên sự tiết axít dịch vị
Độ pH trong dạ dày > 4 được duy trì trung bình lần lượt là 13 và 17 giờ trong vòng 24 giờ sau 5 ngày dùng liều uống esomeprazole 20mg và 40mg ở bệnh nhân trào ngược dạ dày thực quản (GERD) có triệu chứng. Tác động này tương tự nhau dù esomeprazole được dùng đường uống hay đường tĩnh mạch.
Sự ức chế tiết axit có mối liên hệ với nồng độ thuốc và thời gian tiếp xúc với thuốc sau khi dùng esomeprazole dạng uống, được chứng minh qua việc dùng AUC là tham số đại diện cho nồng độ thuốc trong huyết tương. Trong quá trình truyền tĩnh mạch liều cao 80mg esomeprazole trong khoảng 30 phút, sau đó là truyền tĩnh mạch liên tục 8mg/giờ trong 23,5 giờ, pH dạ dày > 4 và pH > 6 được duy trì trung bình lần lượt là 21 giờ và 11 – 13 giờ trong 24 giờ theo dõi ở người tình nguyện khỏe mạnh.
Tác động trị liệu của sự ức chế axít
Khoảng 70% bệnh nhân viêm thực quản do trào ngược được chữa lành sau 4 tuần và 93% bệnh nhân được chữa lành sau 8 tuần khi dùng esomeprazole 40mg dạng uống.
Bệnh nhân đã chẩn đoán xác định xuất huyết tiêu hóa qua nội soi theo phân loại Forrest la, b, la hay Ilb (tỉ lệ tương ứng: 9%, 43%, 38% và 10%) được điều trị ngẫu nhiên với Nexium dung dịch tiêm truyền (n=375) hoặc giả dược (n=389) trong một nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi, đối chứng với giả dược. Sau khi điều trị nội soi để cầm máu, bệnh nhân dùng giả dược hoặc được truyền tĩnh mạch liều cao 80mg esomeprazole trong 30 phút, sau đó truyền tĩnh mạch liên tục 8mg/giờ trong 72 giờ.
Sau 72 giờ điều trị ban đầu, tất cả bệnh nhân được tiếp tục điều trị kháng tiết axit bằng Nexium 40mg dạng uống, nhãn mở trong 7 ngày. Tỷ lệ tái xuất huyết xảy ra trong vòng 3 ngày là 5,9% ở nhóm dùng Nexium, so với 10,3% ở nhóm giả dược. Đến ngày thứ 30 sau điều trị, tỷ lệ tái xuất huyết lần lượt là 7,7% và 13,6% ở nhóm Nexium và nhóm giả dược.
Các tác động khác có liên quan đến sự ức chế axit
Nồng độ gastrin huyết thanh tăng đáp ứng với sự giảm axit dịch vị trong quá trình điều trị bằng thuốc kháng tiết axit dịch vị. Nồng độ CgA cũng tăng do sự giảm axit dịch vị. Việc tăng nồng độ CgA có thể ảnh hưởng đến việc dò tìm các khối u thần kinh nội tiết. Các y văn cho thấy nên ngừng điều trị bằng ức chế bơm proton ít nhất 5 ngày trước khi định lượng CgA. Nếu nồng độ CgA và gastrin không trở về bình thường sau 5 ngày, việc định lượng nên được thực hiện lại sau 14 ngày kể từ khi dừng esomeprazole.
Tăng số lượng tế bào ECL, có lẽ do tăng nồng độ gastrin huyết thanh, đã được ghi nhận ở cả trẻ em lẫn người lớn khi điều trị dài hạn với esomeprazole. Tuy nhiên, phát hiện này không được xem là có ý nghĩa lâm sàng.
Sự tăng nhẹ tần suất xuất hiện nang tuyến dạ dày đã được ghi nhận trong thời gian dài điều trị bằng thuốc kháng tiết axit dịch vị đường uống. Những thay đổi này là lành tính và có thể phục hồi được, do ức chế sự bài tiết axit dịch vị sinh lý.
Giảm axit dạ dày do bất kỳ nguyên nhân nào, kể cả dùng thuốc ức chế bơm proton, làm tăng số lượng vi khuẩn thường trú trong đường tiêu hóa.
Nguy cơ nhiễm khuẩn đường tiêu hóa do Salmonella, campylobacter và có thể là clostridium difficile có thể tăng nhẹ khi điều trị bằng thuốc ức chế bơm proton ở những bệnh nhân nội trú.
Trẻ em
Hiệu quả và tính an toàn đã được đánh giá trong một nghiên cứu đối chứng giả dược trên 98 bệnh nhân từ 1 – 11 tháng tuổi có các dấu hiệu và triệu chứng của trào ngược dạ dày thực quản. Esomeprazole đường uống 1mg/kg, mỗi ngày một lần, trong 2 tuần (pha nhãn mờ) và 80 bệnh nhân được dùng thêm 4 tuần (pha mù đôi, rút lui khỏi điều trị). Không có sự khác biệt đáng kể giữa nhóm esomeprazole và nhóm chứng về kết cục chính thời gian ngưng điều trị do triệu chứng xấu đi.
Hiệu quả và tính an toàn đã được đánh giá trong một nghiên cứu đối chứng giả dược trên 52 bệnh nhân < 1 tháng tuổi có các triệu chứng của trào ngược dạ dày thực quản. Esomeprazole đường uống 0,5mg/kg, mỗi ngày một lần, ít nhất 10 ngày. Không có sự khác biệt đáng kể giữa nhóm esomeprazole và nhóm chứng về kết cục chính, thay đổi so với ban đầu về số lần xuất hiện các triệu chứng của GERD.
Kết quả từ các nghiên cứu ở trẻ em cho thấy liều 0,5mg/kg và 1,0mg/kg esomeprazole tương ứng ở trẻ nhũ nhi < 1 tháng tuổi và từ 1 đến 11 tháng tuổi làm giảm tỷ lệ % thời gian trung bình có pH thực quản ở mức dưới 4. Dữ liệu an toàn tương tự như khi quan sát ở người lớn. Trong một nghiên cứu thực hiện trên bệnh nhân nhi bị trào ngược dạ dày thực quản (GERD) (<1 đến 17 tuổi) được điều trị dài hạn bằng PPI, 61% số trẻ có tăng sản nhẹ tế bào ECL không có ý nghĩa lâm sàng và không phát triển viêm dạ dày teo hay khối u dạng ung thư.
Dược động học
Phân bố
Thể tích phân bố biểu kiến ở trạng thái hằng định trên người khỏe mạnh khoảng 0,22/kg thể trọng. Khoảng 97% Esomeprazole gắn kết với protein huyết tương.
Chuyển hóa và bài tiết
Esomeprazole được chuyển hóa hoàn toàn thông qua hệ thống cytochrome P450 (CYP). Quá trình chuyển hóa phần lớn esomeprazole phụ thuộc vào men CYP2C19 đa hình thái, tạo thành các chất chuyển hóa hydroxy và desmethyl của esomeprazole. Phần còn lại của quá trình chuyển hóa phụ thuộc vào một chất đồng dạng đặc hiệu khác, CYP3A4, tạo thành esomeprazole sulphone, chất chuyển hóa chính trong huyết tương.
Các thông số dưới đây chủ yếu phản ánh động học ở những cá nhân có men chức năng CYP2C19, là nhóm người chuyển hóa mạnh.
Tổng độ thanh thải huyết tương khoảng 17l/giờ sau khi dùng liều đơn và khoảng 9 giờ sau khi dùng liều lặp lại. Thời gian bán thải trong huyết tương khoảng 1,3 giờ sau khi dùng liều lặp lại 1 lần/ngày.
Khi dùng lặp lại esomeprazole, nồng độ và thời gian tiếp xúc (AUC) tăng lên. Sự tăng này phụ thuộc theo liều và đưa đến kết quả là có mối liên hệ không tuyến tính giữa AUC và liều dùng sau khi dùng liều lặp lại. Sự phụ thuộc vào thời gian và liều dùng này là do sự giảm chuyển hóa ở giai đoạn đầu qua gan và giảm độ thanh thải toàn thân có lẽ do sự ức chế men CYP2C19 của esomeprazole và hoặc chất chuyển hóa sulphone.
Esomeprazole thải trừ hoàn toàn khỏi huyết tương giữa các liều dùng, không có khuynh hướng tích lũy khi dùng 1 lần/ngày. Nồng độ đỉnh trung bình trong huyết tương sau khi dùng liều lặp lại 40mg tiêm tĩnh mạch là khoảng 13,6mmol/l. Nồng độ đỉnh trung bình của thuốc ở dạng uống tương ứng trong huyết tương là khoảng 4,6mmol/l. Có thể ghi nhận một tỷ lệ tăng nhẹ (khoảng 30%) về mức tiếp xúc theo nồng độ và thời gian sau khi tiêm tĩnh mạch so với dạng uống.
Nồng độ và thời gian tiếp xúc với thuốc tăng tuyến tính theo liều sau khi truyền tĩnh mạch esomeprazole trong 30 phút (40mg, 80mg hoặc 120mg), sau đó là truyền tĩnh mạch liên tục (4mg/giờ hoặc 8mg/giờ) trong 23,5 giờ. Các chất chuyển hóa chính của esomeprazole không ảnh hưởng đến sự tiết axit dạ dày. Khoảng 80% esomeprazole liều uống được bài tiết qua nước tiểu dưới dạng các chất chuyển hóa, phần còn lại qua phân. Dưới 1% thuốc dạng không đổi được tìm thấy trong nước tiểu.
Các nhóm bệnh nhân đặc biệt
Khoảng 2,9-1,5% dân số không có men chức năng CYP2C19 và được gọi là nhóm người chuyển hóa kém. Ở những cá nhân này, sự chuyển hóa của esomeprazole được xúc tác chủ yếu bởi CYP3A4. Sau khi dùng liều lặp lại esomeprazole 40mg dạng uống, 1 lần/ngày, nồng độ và thời gian tiếp xúc trung bình ở người chuyển hóa kém cao hơn khoảng 100% so với bệnh nhân có men chức năng CYP2C19 (nhóm người chuyển hóa mạnh). Nồng độ đỉnh trung bình trong huyết tương tăng khoảng 60%. Ghi nhận tương tự cũng được thấy đối với esomeprazole tiêm tĩnh mạch. Những ghi nhận này không ảnh hưởng đến liều dùng esomeprazole.
Sự chuyển hóa của esomeprazole không thay đổi đáng kể ở bệnh nhân cao tuổi (71 – 80 tuổi). Sau khi dùng liều đơn esomeprazole 40mg dạng uống, tổng nồng độ và thời gian tiếp xúc trung bình ở phụ nữ cao hơn nam giới khoảng 30%. Không ghi nhận có sự khác biệt về nồng độ và thời gian tiếp xúc giữa hai giới sau khi dùng liều lặp lại 1 lần/ngày. Sự khác biệt tương tự cũng được ghi nhận khi dùng esomeprazole đường tĩnh mạch. Những ghi nhận này không ảnh hưởng đến liều dùng esomeprazole.
Ở bệnh nhân bị rối loạn chức năng gan nhẹ đến trung bình, sự chuyển hóa của esomeprazole có thể suy giảm. Với bệnh nhân rối loạn chức năng gan nặng, tốc độ chuyển hóa giảm, dẫn đến làm tăng gấp đôi nồng độ và thời gian tiếp xúc của esomeprazole. Do đó, không dùng quá liều tối đa 20mg ở bệnh nhân GERD rối loạn chức năng gan nặng. Với bệnh nhân xuất huyết tiêu hóa kèm suy gan nặng, liều truyền liên tục tối đa 4mg/giờ trong 71,5 giờ sau khi truyền liều cao 80mg có thể đủ để đạt hiệu quả. Esomeprazole và các chất chuyển hóa chính không có khuynh hướng tích lũy khi dùng 1 lần/ngày.
Chưa có nghiên cứu nào được thực hiện trên bệnh nhân suy chức năng thận. Vì thận chịu trách nhiệm bài tiết các chất chuyển hóa của esomeprazole, chứ không phải đào thải thuốc dưới dạng không đổi. Do đó, người ta cho rằng sự chuyển hóa của esomeprazole không thay đổi ở bệnh nhân suy chức năng thận.
Trẻ em
Trong một nghiên cứu đa quốc gia, nhãn mở ngẫu nhiên liều lặp lại, bệnh nhân được sử dụng Esomeprazole tiêm tĩnh mạch 3 phút, mỗi ngày một lần trong 4 ngày. Nghiên cứu được tiến hành trên 59 bệnh nhi từ 0 đến 18 tuổi trong đó, 50 bệnh nhân (7 trẻ trong nhóm từ 1 đến 5 tuổi) đã hoàn thành nghiên cứu và được đánh giá dược động học của esomeprazole.
Dự đoán cho thấy rằng Css, max sau khi truyền tĩnh mạch esomeprazol trong 10 phút, 20 phút, 30 phút sẽ bị giảm trung bình tương ứng 37% đến 49%, 54% đến 66% và 61% đến 72% ở tất cả các nhóm tuổi và nhóm liều so với khi dùng đường tiêm tĩnh mạch 3 phút.
Cách dùng
Sử dụng bằng đường tiêm tĩnh mạch.
Để chuẩn bị dung dịch tiêm.
Liều dùng
Nexium dùng được cho trẻ em và trẻ vị thành niên từ 1-18 tuổi, cũng như người lớn, bao gồm cả người cao tuổi.
Người lớn
Bác sĩ sẽ kê đơn và quyết định liều lượng Nexium phù hợp cho bạn.
Liều Nexium khuyến cáo là 20ng hoặc 40mg, một lần mỗi ngày.
Nếu bạn có các vấn đề nghiêm trọng về gan, liều tối đa của Nexium là 20mg mỗi ngày (với trường hợp “bệnh trào ngược dạ dày thực quản. Thuốc được dùng qua tiêm hoặc truyền qua tĩnh mạch.
Thời gian tiêm/truyền kéo dài khoảng 30 phút.
Để phòng ngừa tái xuất huyết do loét dạ dày hoặc loét tá tràng, liều khuyến cáo là 80mg truyền tĩnh mạch trong 30 phút, tiếp theo là truyền tĩnh mạch liên tục 8mg/giờ trong 3 ngày.
Nếu bạn có vấn đề nghiêm trọng về gan, việc truyền tĩnh mạch liên tục 4mg/giờ trong 3 ngày có thể phù hợp.
Trẻ em từ 1 – 18 tuổi
Bác sĩ sẽ kê đơn và quyết định liều lượng Nexium phù hợp cho bạn.
Đối với trẻ từ 1 – 11 tuổi, liều khuyến cáo là 10 hoặc 20mg, một lần mỗi ngày.
Đối với trẻ từ 12 – 18 tuổi, liều khuyến cáo là 20 hoặc 40mg, một lần mỗi ngày. Thuốc được dùng qua tiêm hoặc truyền qua tĩnh mạch.
Thời gian lên truyền kéo dài khoảng 30 phút.
Lưu ý: Liều dùng được cung cấp chỉ để tham khảo. Liều dùng cụ thể có thể khác nhau tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe và mức độ tiến triển của bệnh. Tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên viên y tế để có liều dùng tối ưu.
Làm gì khi dùng quá liều?
Kinh nghiệm về việc dùng quá liều có chủ ý còn hạn chế. Các triệu chứng được mô tả liên quan đến việc dùng liều uống 280mg là các triệu chứng trên đường tiêu hóa và tình trạng yếu ớt.
Không có tác dụng không mong muốn được ghi nhận khi dùng các liều đơn esomeprazole dạng uống 80mg và dạng dùng tĩnh mạch 308mg esomeprazole trong suốt 24 giờ.
Không có chất giải độc đặc hiệu; esomeprazole gắn kết mạnh với protein huyết tương và do đó không dễ dàng thẩm phân được.
Trong trường hợp quá liều, điều trị nên tập trung vào triệu chứng và sử dụng các biện pháp hỗ trợ tổng quát.
Làm gì khi quên 1 liều?
Nếu bạn bỏ lỡ một liều, hãy dùng nó ngay khi nhớ ra. Tuy nhiên, nếu gần đến thời điểm dùng liều tiếp theo, hãy bỏ qua liều đã quên và dùng liều tiếp theo như bình thường. Không nên dùng gấp đôi liều đã quy định.
Tác dụng phụ
Khi sử dụng thuốc Nexium 40mg, bạn có thể gặp các tác dụng không mong muốn (ADR).
Các tác dụng không mong muốn sau đây đã được ghi nhận hoặc nghi ngờ trong các chương trình nghiên cứu lâm sàng của esomeprazole dạng uống và tiêm tĩnh mạch và theo lối sau khi lưu hành thuốc dạng uống.
Rối loạn máu và hệ bạch huyết
- Hiếm gặp: Giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu.
- Rất hiếm gặp: Mất bạch cầu hạt, giảm toàn thế huyết cầu.
Rối loạn hệ miễn dịch
- Hiếm gặp: Phản ứng quá mẫn như sốt, phù mạch, phản ứng/sốc phản vệ.
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng
- Ít gặp: Phù ngoại biên.
- Hiếm gặp: Giảm natri máu.
- Chưa biết: Giảm magnesi huyết, giảm magnesi huyết nghiêm trọng có liên quan với giảm canxi huyết. Giảm magnesi huyết cũng có thể dẫn đến giảm kali huyết.
Rối loạn tâm thần
- Ít gặp: Mất ngủ.
- Hiếm gặp: Kích động, lú lẫn, trầm cảm.
- Rất hiếm: Nóng nảy, ảo giác.
Rối loạn hệ thần kinh
- Thường gặp: Nhức đầu.
- Ít gặp: Choáng váng, dị cảm, ngủ gà.
- Hiếm gặp: Rối loạn vị giác.
Rối loạn mắt
- Hiếm gặp: Nhìn mờ.
Rối loạn tại và mê đạo
- Ít gặp: Chóng mặt.
Rối loạn hô hấp, ngực và trung thất
- Hiếm gặp: Co thắt phế quản.
Rối loạn tiêu hóa
- Thường gặp: Đau bụng, táo bón, tiêu chảy, đầy bụng, buồn nôn/nôn.
- Ít gặp: Khô miệng.
- Hiếm gặp: Viêm miệng, nhiễm candida đường tiêu hóa.
- Chưa biết: Viêm đại tràng vi thể.
Rối loạn gan mật
- It gặp: Tăng men gan.
- Hiếm gặp: Viêm gan có hoặc không vàng da.
- Rất hiếm: Suy gan, bệnh não ở bệnh nhân đã có bệnh gan.
Rối loạn da và mô dưới da
- Thường gặp: Phản ứng tại chỗ tiêm tiêm truyền.
- Ít gặp: Viêm da, ngứa, nổi mẩn, mề đay.
- Hiếm gặp: Hói đầu, nhạy cảm với ánh sáng
- Rất hiếm: Hồng ban đa dạng, hội chứng Stevens-Johnson, hoại tử biểu bì gây độc (TEN)
Rối loạn cơ xương và mô liên kết
- Ít gặp: Gãy xương hông, xương cổ tay và cột sống.
- Hiếm gặp: Đau khớp, đau cơ.
- Rất hiếm: Yếu cơ.
Rối loạn thần và tiết niệu
- Rất hiếm: Viêm thận kẽ, đã có báo cáo về suy thân đi kèm trên một số bệnh nhân.
Rối loạn hệ sinh sản và tuyến vú
- Rất hiếm: Nữ hóa tuyến vú.
Các rối loạn tổng quát và tại chỗ
- Hiếm: Khó ở, tăng tiết mồ hôi.
Phản ứng tại chỗ tiêm truyền chủ yếu xảy ra trong một nghiên cứu sử dụng liều cao trong 3 ngày (72 giờ).
Tổn thương thị giác không phục hồi đã được ghi nhận trong một số rất hiếm trường hợp bệnh nhân mắc bệnh trầm trọng đã dùng omeprazole (dạng racemate) đường tĩnh mạch, đặc biệt khi dùng liều cao.
Tuy nhiên, không có sự thiết lập mối quan hệ nhân quả giữa việc dùng thuốc và tác dụng không mong muốn này.
Sử dụng ở trẻ em
Một nghiên cứu đa quốc gia, nhãn mở, ngẫu nhiên được tiến hành nhằm đánh giá dược động học của liều tiêm tĩnh mạch lặp lại esomeprazole, mỗi ngày một lần, trong 4 ngày ở bệnh nhân từ 0 đến 18 tuổi.
Tổng số có 57 bệnh nhân (8 trẻ em trong nhóm tuổi từ 1 – 5) đã được đánh giá tính an toàn.
Các kết quả về tính an toàn phù hợp với các dữ liệu an toàn đã biết của esomeprazole, không thấy có dấu hiệu an toàn mới nào.
Hướng dẫn cách xử trí ADR
Ngưng sử dụng thuốc và thông báo cho bác sĩ hoặc đến cơ sở y tế gần nhất để được xử trí kịp thời khi gặp tác dụng phụ.
Lưu ý
Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng thuốc và tham khảo thông tin bên dưới.
Chống chỉ định
Thuốc Nexium 40mg chống chỉ định trong các trường hợp sau:
- Có tiền sử quá mẫn với esomeprazole, các chất khác thuộc phân nhóm benzimidazole hoặc bất kỳ tá dược nào của thuốc.
- Không nên sử dụng esomeprazole đồng thời với nelfinavir.
Thận trọng khi sử dụng
- Nên loại trừ khả năng ác tính khi có các triệu chứng cảnh giác (ví dụ: sụt cân đáng kể không rõ nguyên nhân, nôn mửa tái phát, khó nuốt, nôn ra máu hoặc đại tiện ra màu đen) và khi có hoặc nghi ngờ bị loét dạ dày. Điều trị bằng Nexium có thể làm giảm triệu chứng và làm chậm trễ việc chẩn đoán.
- Điều trị bằng thuốc ức chế bơm proton có thể làm tăng nhẹ nguy cơ nhiễm khuẩn đường tiêu hóa do salmonella và campylobacter.
- Không khuyến cáo dùng đồng thời esomeprazole với atazanavir. Nếu sự phối hợp atazanavir với thuốc ức chế bơm proton là không thể tránh khỏi, cần theo dõi chặt chẽ trên lâm sàng, tăng liều atazanavir đến 400mg kết hợp với 100mg ritonavir, và không nên sử dụng quá 20mg esomeprazole.
- Esomeprazole có thể làm giảm hấp thu vitamin B12 (Cyanocobalamin) do giảm độ acid dịch vị. Nên cân nhắc điều này ở những bệnh nhân có giảm dự trữ hoặc có nguy cơ giảm hấp thu vitamin B12 khi điều trị dài hạn.
- Esomeprazole là chất ức chế CYP2C19. Nên xem xét nguy cơ tương tác thuốc với các thuốc chuyển hóa qua CYP2C19 khi bắt đầu hoặc kết thúc điều trị với esomeprazole. Đã ghi nhận tương tác giữa clopidogrel và esomeprazole. Mối tương quan lâm sàng của tương tác này không chắc chắn. Không khuyến khích dùng đồng thời esomeprazole và clopidogrel như một biện pháp thận trọng.
- Đã có các báo cáo về hạ magnesi huyết nghiêm trọng ở các bệnh nhân được điều trị với các thuốc ức chế bơm proton (PPI) như esomeprazole trong ít nhất 3 tháng, hầu hết các trường hợp sử dụng PPI trong 1 năm. Các triệu chứng nghiêm trọng của hạ magnesi huyết (mệt mỏi, co cứng cơ, mê sảng, co giật, choáng váng và loạn nhịp thất) có thể xảy ra, nhưng có thể khởi phát âm thầm và không dễ nhận thấy. Ở đa số các bệnh nhân, tình trạng hạ magnesi huyết được cải thiện sau khi sử dụng liệu pháp magnesi thay thế và ngừng sử dụng PPI.
- Các chuyên viên y tế nên cân nhắc đo nồng độ magnesi máu trước khi bắt đầu điều trị với PPI và kiểm tra định kỳ trong quá trình điều trị, đặc biệt đối với những bệnh nhân phải điều trị kéo dài với PPI hoặc phải sử dụng PPI cùng với digoxin hoặc các thuốc khác có thể gây hại magnesi huyết (ví dụ: thuốc lợi tiểu).
- Nguy cơ gãy xương hông, xương cổ tay và cột sống có thể tăng nhẹ khi dùng các thuốc ức chế bơm proton (đặc biệt khi dùng liều cao và trong thời gian dài (> 1 năm), đặc biệt ở bệnh nhân cao tuổi hoặc khi có các yếu tố nguy cơ đã biết khác. Các nghiên cứu quan sát cho thấy rằng các thuốc ức chế bơm proton có thể làm tăng tổng thể nguy cơ gãy xương khoảng 10 – 40%. Một phần trong mức tăng này có thể do các yếu tố nguy cơ khác. Bệnh nhân có nguy cơ loãng xương cần được chăm sóc theo các hướng dẫn lâm sàng hiện hành và nên dùng đủ lượng vitamin D và canxi cần thiết. Tương tác với các xét nghiệm
Nên ngừng điều trị bằng esomeprazole ít nhất 5 ngày trước khi định lượng CgA để tránh sự can thiệp của sự tăng nồng độ Chromgranin A (CgA) vào việc dò tìm các khối u thần kinh nội tiết.
Khả năng lái xe và vận hành máy móc
Không ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy.
Thời kỳ mang thai
Dữ liệu về việc tiếp xúc với esomeprazole trong thai kỳ còn hạn chế. Trong các nghiên cứu trên động vật, esomeprazole không cho thấy tác động gây hại trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự phát triển của phôi thai nhi.
Các nghiên cứu trên động vật với hỗn hợp racemic không cho thấy thuốc có tác động gây hại trực tiếp hoặc gián tiếp đến tình trạng mang thai, sự sinh nở hoặc phát triển sau sinh. Nên thận trọng khi kê toa Nexium cho phụ nữ có thai.
Thời kỳ cho con bú
Chưa rõ esomeprazole có tiết qua sữa mẹ hay không. Nghiên cứu trên phụ nữ cho con bú chưa được thực hiện. Vì vậy, không nên dùng Nexium trong khi cho con bú.
Tương tác thuốc
Các nghiên cứu về tương tác thuốc mới chỉ được thực hiện ở người lớn.
Ảnh hưởng của esomeprazole trên dược động học của các thuốc khác
Thuốc có sự hấp thu phụ thuộc pH
Việc giảm độ axit dạ dày khi điều trị bằng esomeprazole và các PPI khác có thể làm tăng hoặc giảm sự hấp thu của các thuốc hấp thu phụ thuộc pH dịch vị. Giống như các thuốc làm giảm độ pH dịch vị khác, sự hấp thu của các thuốc như ketoconazole, itraconazole và erlotinib có thể giảm, trong khi sự hấp thu của digoxin có thể tăng lên trong khi điều trị với esomeprazole.
Sử dụng đồng thời omeprazole (20mg/ngày) và digoxin ở các đối tượng khỏe mạnh làm tăng sinh khả dụng của digoxin khoảng 10% (lên đến 30% ở 2 trên 10 đối tượng nghiên cứu). Đã có các báo cáo hiếm gặp về độc tính của digoxin. Tuy nhiên, nên thận trọng khi dùng esomeprazole liều cao ở người cao tuổi, cần tăng cường theo dõi việc điều trị bằng digoxin.
Đã có báo cáo về tương tác của omeprazole với một số chất ức chế men protease. Cơ chế tác động và tầm quan trọng về lâm sàng của các tương tác này vẫn chưa rõ. Tăng độ pH dạ dày trong quá trình điều trị với omeprazole có thể dẫn đến thay đổi sự hấp thu của chất ức chế men protease. Một cơ chế tương tác khác có thể thông qua chất ức chế enzyme CYP 2C19. Vì giảm nồng độ thuốc trong huyết thanh đã được ghi nhận khi dùng chung với omeprazole đối với atazanavir và nelfinavir, nên không khuyến cáo dùng đồng thời các thuốc này.
Sử dụng đồng thời omeprazole (40mg, 1 lần/ngày) và atazanavir 300mg/ritonavir 100mg làm giảm đáng kể nồng độ và thời gian tiếp xúc atazanavir (giảm AUC, Cmax và Cmin khoảng 75%) ở người tình nguyện khỏe mạnh. Việc tăng liều atazanavir đến 400 mg đã không bù trừ tác động của omeprazole trên nồng độ và thời gian tiếp xúc atazanavir.
Việc dùng phối hợp omeprazole (20mg, 1 lần/ngày) với atazanavir 400mg/ritonavir 100mg ở người tình nguyện khỏe mạnh làm giảm khoảng 30% nồng độ và thời gian tiếp xúc atazanavir, so sánh với nồng độ và thời gian tiếp xúc ghi nhận trong trường hợp dùng atazanavir 300mg/ritonavir 100mg, 1 lần/ngày, mà không dùng omeprazole 20mg, 1 lần/ngày.
Sử dụng phối hợp với omeprazole (40mg, 1 lần/ngày) làm giảm trị số trung bình AUC, Cmax và Cmin của nelfinavir khoảng 35 – 39% và giảm khoảng 75 – 92% trị số trung bình AUC, Cmax và Cmin của chất chuyển hóa hoạt tính có tác động dược lý. Tăng nồng độ thuốc trong huyết thanh (80 – 100%) khi dùng saquinavir (sử dụng đồng thời với ritonavir) đồng thời với omeprazole (40mg, 1 lần/ngày).
Việc điều trị với omeprazole 20mg, 1 lần/ngày, không ảnh hưởng đến sự tiếp xúc của darunavir (khi dùng đồng thời với ritonavir) và amprenavir (khi dùng đồng thời với ritonavir). Việc điều trị với esomeprazole 20mg, 1 lần/ngày, không ảnh hưởng đến sự tiếp xúc của amprenavir (sử dụng hay không sử dụng đồng thời với ritonavir). Việc điều trị với omeprazole 40mg, 1 lần/ngày, không ảnh hưởng đến sự tiếp xúc của lopinavir (sử dụng đồng thời với ritonavir). Do tác động được lực và các đặc tính dược động học tương tự của omeprazole và esomeprazole, không khuyến cáo sử dụng esomeprazole đồng thời với atazanavir và chống chỉ định sử dụng esomeprazole đồng thời với nelfinavir.
Thuốc chuyển hoá qua men CYP2C19
Esomeprazole ức chế CYP2C19, men chính chuyển hóa esomeprazole. Do vậy, khi dùng chung esomeprazole với các thuốc chuyển hóa qua CYP2C19 (diazepam, citalopram, imipramine, clomipramine, phenytoin…), nồng độ các thuốc này trong huyết tương có thể tăng và cần giảm liều dùng. Dùng đồng thời với esomeprazole 30mg dạng uống làm giảm 45% độ thanh thải diazepam (một cơ chất của CYP2C19). Khi dùng đồng thời với esomeprazole 40mg dạng uống và phenytoin, nồng độ đáy của phenytoin trong huyết tương ở bệnh nhân động kinh tăng 13%. Nên theo dõi nồng độ phenytoin trong huyết tương khi bắt đầu hoặc ngưng điều trị với esomeprazole.
Omeprazole (40mg, 1 lần/ngày) làm tăng Cmax và AUCt của Voriconazole (một cơ chất của CYP2C19 ) lên tương ứng là 15% và 41%.
Thời gian đông máu vẫn ở mức chấp nhận được khi dùng đồng thời 40mg esomeprazole dạng uống ở người đang điều trị bằng Warfarin trong một thử nghiệm lâm sàng. Tuy nhiên, một số trường hợp rất hiếm gặp về việc tăng INR đáng kể trên lâm sàng đã được ghi nhận sau khi đưa thuốc ra thị trường khi điều trị đồng thời hai thuốc. Nên theo dõi bệnh nhân khi bắt đầu và khi chấm dứt việc điều trị đồng thời esomeprazole trong quá trình điều trị với Warfarin hoặc các dẫn xuất khác của coumarin.
Omeprazole cũng như esomeprazole tác dụng như các chất ức chế CYP2C19. Trong một nghiên cứu chéo, omeprazole dùng với liều 40mg trên đối tượng khỏe mạnh đã làm tăng 18% Cn và 26% AUC của cilostazol và làm tăng tương ứng 29% C, và 69% AUC của một trong các chất chuyển hóa có hoạt tính.
Ở người tình nguyện khoẻ mạnh, khi dùng chung 40mg esomeprazole dạng uống và cisapride, diện tích dưới đường cong biểu diễn nồng độ cisapride trong huyết tương theo thời gian (AUC) tăng lên 32% và thời gian bán thải (to) cisapride kéo dài thêm 31% nhưng nồng độ đỉnh cisapride trong huyết tương tăng lên không đáng kể. Khoảng QTc hơi kéo dài sau khi dùng cisapride riêng lẻ, không bị kéo dài hơn nữa khi dùng đồng thời cisapride với esomeprazole.
Esomeprazole đã được chứng minh không ảnh hưởng đáng kể về lâm sàng trên dược động học của amoxicillin hay quinidine.
Các nghiên cứu tương tác in vivo chưa được thực hiện trên liều cao (80mg + 8mg/giờ) dùng đường tĩnh mạch. Tác động của esomeprazole trên thuốc chuyển hóa qua men CYP2C19 có thể rõ rệt hơn khi sử dụng liều cao này và bệnh nhân cần được theo dõi chặt chẽ những phản ứng có hại của thuốc trong suốt 3 ngày điều trị bằng đường tĩnh mạch.
Kết quả từ các nghiên cứu trên người tình nguyện khỏe mạnh cho thấy tương tác dược động – dược lực giữa clopidogrel (liều nạp 300mg/liều duy trì 75mg) và esomeprazole (40mg/ngày đường uống) dẫn đến giảm trung bình 40% nồng độ và thời gian tiếp xúc của chất chuyển hóa có hoạt tính của clopidogrel, đồng thời làm giảm trung bình 14% sự ức chế tối đa kết tập tiểu cầu (gây bởi ADP).
Trong một nghiên cứu trên các đối tượng khỏe mạnh, khi sử dụng đồng thời clopidogrel cùng với một phối hợp liều cố định esomeprazole 20mg + ASA 81mg so sánh với clopidogrel đơn độc, nồng độ và thời gian tiếp xúc của chất chuyển hóa có hoạt tính của clopidogrel giảm gần 40%. Tuy nhiên, mức độ tối đa của sự ức chế kết tập tiểu cầu (gây ra bởi ADP) trên các đối tượng này là như nhau ở nhóm dùng clopidogrel đơn độc và nhóm dùng phối hợp clopidogrel và esomeprazole + ASA.
Số liệu chưa nhất quán về biểu hiện lâm sàng của tương tác dược động /dược lực của esomeprazole trên các biến cố tim mạch chính đã được báo cáo từ cả nghiên cứu quan sát và nghiên cứu lâm sàng. Nhằm mục đích thận trọng, việc dùng đồng thời với clopidogrel không được khuyến khích.
Chưa biết cơ chế
Việctương tác giữa esomeprazole và clopidogrel vẫn chưa được hiểu rõ, mặc dù đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng việc sử dụng đồng thời có thể làm giảm hiệu quả của clopidogrel trong việc chống kết tập tiểu cầu. Cần lưu ý rằng sự giảm nồng độ và hoạt tính của chất chuyển hóa clopidogrel có thể dẫn đến nguy cơ tăng cao các biến cố tim mạch ở những bệnh nhân sử dụng thuốc này.
Do đó, trước khi đưa ra quyết định điều trị, bác sĩ cần xem xét kỹ lưỡng lợi ích và nguy cơ của việc phối hợp điều trị giữa esomeprazole và clopidogrel. Nếu cần thiết phải dùng đồng thời, nên theo dõi cẩn thận tình trạng sức khỏe của bệnh nhân để phát hiện sớm bất kỳ dấu hiệu nào về hiệu quả giảm của clopidogrel.
Bảo quản
Bảo quản trong bào bì đóng gói gốc để tránh ánh sáng. Tuy nhiên, các lọ thuốc có thể bảo quản bên ngoài hộp giấy ở ánh sáng thường trong nhà cho đến 24 giờ. Không bảo quản ở nhiệt độ trên 30oC.



Sức khỏe giới tính

Đánh giá
Xóa bộ lọcChưa có đánh giá nào.